Trang chủ » Đông Lỗ-Ứng Hòa

Danh nhân Nguyễn Thượng Hiền

Nguyễn Thượng Hiền (chữ Hán: 阮尚賢; 1868-1925) tên tự: Đỉnh Nam, Đỉnh Thần, tên hiệu: Mai Sơn còn được gọi là Ông nghè Liên Bạt, sinh năm 1868 tại làng Liên Bạt, tỉnh Hà Đông. Ông là con rể quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết, cha ông là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Phiên.

       

 

Từ nhỏ Nguyễn Thượng Hiền đã nổi tiếng rất thông minh. Năm 1884, khi 17 tuổi, ông đỗ cử nhân ở khoa thi Hương ở Thanh Hóa. Năm 1885, ông đỗ đầu kỳ thi Hội nhưng chưa kịp xướng danh thì kinh thành Huế thất thủ, ông phải về ở ẩn tại núi Nưa, Thanh Hóa. Đến năm 1892, ông ra thi Đình và đỗ Hoàng Giáp. Lúc đó 24 tuổi, Nguyễn Thượng Hiền được bổ làm Toản Tu ở Quốc Sử quán, thăng Đốc học ở Ninh Bình, rồi thuyên sang Nam Định nên ông còn được gọi là ông Đốc Nam.

Trong thời gian ở Huế, ông cảm nhận tư tưởng tiến bộ của Đại Thế Thiên Hạ Luận của nhà sư Nguyễn Lộ Trạch và đọc nhiều tân thư của Trung Quốc. Ông kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.

Năm 1898, qua giao tiếp với Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thượng Hiền hỗ trợ phong trào Đông Du nhưng vì cha ông lúc đó mang bệnh nặng nên ông phải ở lại vận động cách mạng trong nước.

Năm 1907 vua Thành Thái bị người Pháp buộc thoái vị, ông vào phủ toàn quyền đòi nhà nước Bảo hộ bãi lệnh nhưng không thành. Thối chí, ông giả làm thầy bốc thuốc ở hiệu "Nam Thọ", Hà Nội rồi tìm đường sang Trung Quốc hoạt động và cùng với Phan Bội Châu lập ra Việt Nam Quang phục Hội. Năm 1914 sau khi Phan Bội Châu bị bắt, ông là người lãnh đạo của hội.

Sau khi các hoạt động của Việt Nam Quang phục Hội thất bại, Nguyễn Thượng Hiền xuống tóc vào tu ở chùa Thường Tích Quang, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Zhejiang) và mất tại đây ngày 28 tháng 12 1925. Theo di chúc, thi hài ông được hỏa táng, và tro rải xuống sông Tiền Đường

Ông để lại một số tác phẩm thơ, văn bằng chữ Hán, Nôm. Thơ ông chủ yếu ký thác những tâm sự của mình và lên án chính sách của người Pháp, khơi dậy lòng yêu nước, kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp. Tập văn xuôi Hát Đông thư dị của ông mang đậm tính chất truyền kỳ.

Tên ông được đặt cho nhiều đường phố, trường học tại Việt Nam.

Tác phẩm

Thơ

  • Nam chi tập (gồm 3 quyển)
  • Mai Sơn ngâm tập
  • Nam hương tập
  • Mai Sơn ngâm thảo
  • Một số bài thơ Nôm tuyên truyền cách mạng: Bài phú cải lương, Hợp quần doanh sinh thuyết...

 

CỬ ĐẦU VỌNG THANH SƠN

1857 - 1867 , chỉ mười năm sau biến cố Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây, toàn bộ Nam Kỳ Lục Tỉnh rơi vào tay thực dân Pháp.
Năm sau, 1868, quan Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Phiên có đứa con trai chào đời ở làng Liên Bạt, Hà Đông : Nguyễn Thượng Hiền ! Thượng Hiền được sinh ra gặp lúc đất nước biến động dữ dội bởi chính sách thuộc địa của các nước Tây Âu. Tiếng súng Tây đã làm đau nhói trái tim của cậu bé, khiến cậu có những suy nghĩ trước tuổi của mình.

1884, mới 16 tuổi đầu, Nguyễn Thượng Hiền đỗ cử nhân ngay lần thi Hương đầu tiên.
Năm sau, 1885, ông đậu kỳ thi Hội, và vào thi Đình. Kết qủa kỳ thi chưa được công bố thì xảy ra biến cố ở kinh đô.

Lúc phong trào Cần Vương dấy lên là lúc Nguyễn Thượng Hiền về Thanh Hoá, tuổi 20 mơ ước có một ngày…
Trở lại Huế, đọc được Đại Thế Thiên Hạ Luận của Nguyễn Lộ Trạch.

Năm 1892, đi thi, dỗ Hoàng Giáp, vào làm Quốc Sử Quán, được đọc Tân Thư của Trung Quốc, và kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh thúc Kháng…, trao cho các sĩ phu yêu nước này cuốn Đại Thế Thiên Hạ Luận, và Tân Thư.

Năm 1898, qua giao tiếp với Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thượng Hiền đã quyết chí Đông du, nhưng quan Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Phiên bị bệnh nặng nên đành phải ở lại lo cho cha.
Năm 1905, tiễn Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ ra nước ngoài, Nguyễn Thượng Hiền vận động phong trào ở trong nuớc, hẹn ngày gặp lại.

Năm 1907, cha mất. Thọ tang cha xong, Nguyễn Thượng Hiền từ biệt vợ con sang trung Quốc cùng hoạt động với Phan Bội Châu trong Duy Tân Hội, rồi sang Việt Nam Quang Phục Hội vào mùa xuân năm Canh Tý (1912) trong Bình Nghị Bộ phụ trách xứ Bắc Kỳ, cùng với Phan Sào Nam (Trung Kỳ) và Nguyễn Thành Hiền (Nam Kỳ).

Qua năm (1913), Phan Sào Nam và một số đồng chí bị bắt. Từ đó về sau, thêm nhiều đồng chí khác nữa bị bắt, nhiều người tuẫn tiết ở Hà Nội…Có lẻ vì nghĩ rằng con đường đấu tranh cho đất nước, dân tộc chưa có lối ra, ngặt nỗi :

Hăm lăm triệu xương tan thịt nát,
xót đồng bào đương giữa biển trầm luân ;

Nên :

Toan một mình trống tối chuông mai,
dắt đại chúng thoát ra vòng khổ nạn.
Những ước trời Nam đất Việt,
khắp mọi vùng mưa pháp mây từ.

Nguyễn Thượng Hiền tu ở ngôi chùa nhỏ Thường Tích Quang tại Hàng Châu, rồi viên tịch ở đó vào ngày 28-12-1925, để lại di chúc cùng 200 đồng thời bấy giờ để lo việc hỏa thiêu và rải tro than thân xác Người xuống sông Tiền Đường với ước vọng nương theo triền nước về quê mẹ.

Lửa can tịnh thiêu xương người khí tiết,
sống thanh cao mà chết cũng thanh cao !

Là chiến sĩ hay tu sĩ, trọn đời Nguyễn Thượng Hiền cử đầu vọng thanh sơn !

 

Sưu tầm từ internet : Dương Đình Chinh

Lưu bút

Viết lưu bút: